Một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hai mặt cho học sinh tại trường THCS ABC

Thứ tư - 02/09/2020 06:11 184 0
0I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
           Cùng với gia đình, nhà trường là nơi góp phần đào tạo thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước, trong đó có thầy cô giáo giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh. Ngoài nhiệm vụ chính là truyền thụ tri thức cho học sinh, người thầy còn luôn có sự phối hợp với gia đình, xã hội để cùng giáo dục, hoàn thiện nhân cách cho học sinh. Đặc biệt vai trò của người giáo viên chủ nhiệm là vô cùng quan trọng, giáo viên chủ nhiệm được xem như người cha, người mẹ thứ hai. Giáo viên chủ nhiệm lớp ngoài việc thực hiện công  tác giảng dạy như một giáo viên bình thường còn phải  thực hiện tốt nhiệm vụ quản lí lớp học và là nhân vật chủ chốt, là linh hồn của lớp, người tập hợp, dìu dắt giáo dục học sinh phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt, công dân tốt...  và xây dựng một tập thể học sinh vững mạnh góp phần xây dựng tập thể nhà trường vững mạnh.
           Quá trình thực hiện công tác chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm lớp có thể gặp rất nhiều tình huống giáo dục khác nhau. Thực tế này đòi hỏi họ phải suy nghĩ, tìm tòi những cách giải quyết hợp lí, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, nâng cao chất lượng giáo dục hai mặt cho học sinh đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn hiện nay.
Là một giáo viên làm công tác chủ nhiệm, không chỉ bản thân tôi mà đa số các giáo viên chủ nhiệm khác cũng luôn mong muốn những thế hệ học sinh mà mình đã và đang dìu dắt trở thành học sinh ngoan, biết kính trên nhường dưới, năng động sáng tạo, biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế để góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.
         Mỗi học sinh đều có những hoàn cảnh, nhận thức, khả năng ... khác nhau vậy nên giáo viên chủ nhiệm phải làm tốt vai trò người thầy, người cha, người mẹ đối với học sinh. Từ đó mới xây dựng được kế hoạch giáo dục phù hợp nhằm phát huy tối đa khả năng của học sinh.
        Song để đạt được những kết quả như vậy không phải là dễ, đòi hỏi mỗi chúng ta phải có biện pháp riêng của mình với từng đối tượng, phải kiên trì, bền bỉ, dịu dàng. Người giáo viên phải lấy “kỉ cương, tình thương, trách nhiệm” để giáo dục học sinh, không chỉ nặng về truyền thụ tri thức mà còn phải chú trọng giáo dục đạo đức, kĩ năng sống... cho học sinh. Xuất phát từ thực tế đó, với vai trò là một giáo viên chủ nhiệm và từ kinh nghiệm thực tế làm công tác chủ nhiệm gần 10 năm, tôi rút ra một số kinh nghiệm, cụ thể với  đề tài “Một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hai mặt cho học sinh tại trường THCS ABC”.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
 - Với đề tài nghiên cứu này, tôi muốn trao đổi với các đồng nghiệp về những biện pháp, giải pháp trong công tác chủ nhiệm lớp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hai mặt của học sinh.
 - Giúp các em học sinh hứng thú, chủ động, sáng tạo  hơn trong các hoạt động học tập và phong trào. Giải quyết khó khăn thường gặp trong quá trình học tập.
- Giúp các em rèn luyện các kỹ năng trong quá trình tham gia các phong trào của lớp, của trường.
3. Đối tượng nghiên cứu
 Đề tài lấy đối tượng nghiên cứu là những phương pháp hiệu quả được áp dụng trong công tác chủ nhiệm lớp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hai mặt ở  trường THCS ABC, xã Quảng Điền, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
4. Giới hạn của đề tài
Với tính chất là bài nghiên cứu mang tính chủ quan, trong đề tài này tôi tập trung vào việc trình bày những kinh nghiệm của bản thân, những giải pháp hiệu quả trong công tác chủ nhiệm mà tôi đã áp dụng với đối tượng học sinh lớp 8A3 trong năm học 2016 - 2017.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Tham khảo Sách giáo viên chủ nhiệm lớp - Những kí ức khó phai - Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam và những tài liệu có liên quan.
- Quán triệt các công văn chỉ đạo của Bộ, Sở và Phòng giáo dục – đào tạo, kế hoạch hoạt động của nhà trường, đội thiếu niên tiền phong.
5.2. Phương pháp điều tra
- Học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp để nâng cao chất lượng giáo dục trong công tác chủ nhiệm lớp.
- Phát phiếu điều tra về sở thích, mong muốn và những khó khăn mà các em gặp phải.
5.3. Ph­­ương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
5.4. Phư­­ơng pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động
5.5. Ph­­ương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm
5.6. Ph­­ương pháp thống kê toán học
    1. PHẦN NỘI DUNG
  1. Cơ sở lý luận
             Đời sống xã hội hiện nay đã có những ảnh hưởng lớn tới nhà trường, làm nảy sinh nhiều tình huống giáo dục phức tạp và đa dạng hơn. Giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò và trò chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình giáo dục và hình thành nhân cách học sinh.
        Mỗi em học sinh được sinh ra và lớn lên trong một gia đình khác nhau nên tuổi tác, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức của bố mẹ và gia đình đông con hay ít con, sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, điều kiện sinh hoạt vật chất, điều kiện sinh hoạt tinh thần, quan hệ gia đình với hàng xóm láng giềng, tình hình an ninh ở địa phương, quan hệ bạn bè tốt hay xấu … tất cả những điều kiện trên đều có khả năng ảnh hưởng đến học sinh. Bởi vậy, việc tìm hiểu, nắm vững gia cảnh, hoàn cảnh sống nói chung của từng học sinh là hết sức qua trọng. Nó giúp giáo viên chủ nhiệm biết được nguyên nhân và những yếu tố tích cực hoặc tiêu cực, những thuận lợi  hay khó khăn đang tác động đến học sinh. Đồng thời biết được phương pháp giáo dục của gia đình để có thể tham mưu, tư vấn và phối hợp với gia đình để có thể lựa chọn phương pháp có tác dụng phù hợp hơn.
        Tất nhiên, việc làm trên không thể được thực hiện trong thời gian ngắn  có thể hoàn thành mà đòi hỏi phải thực hiện trong một thời gian dài, thậm trí có khi phải thực hiện trong nhiều tháng, trong nhiều năm. Vì sản phẩm của giáo dục không thể thấy ngay trong trước mắt, mọi sản phẩm của giáo dục, nhất lại là sản phẩm của nhân cách lại chỉ được xã hội đánh giá, chấp nhận hay không ở nhiều năm sau khi các em đã rời ghế nhà trường. Vì vậy, nó lại càng đòi hỏi lương tâm trách nhiệm rất cao của người thầy.
2. Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp tại trường THCS ABC
Trường THCS ABC nằm trên địa bàn xã Quảng Điền, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk, đa số các tầng lớp nhân dân gắn liền với nghề nông - trồng lúa nước.
Năm học 2016-2017, trường có 14 lớp với tổng số 457 học sinh trong đó Nữ: 222 (48,57%) , Học sinh dân tộc thiểu số: 0 
2.1. Thuận lợi:
- Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm và phối hợp chặt chẽ từ các  phụ huynh và chính quyền địa phương để có được những điều kiện thuận lợi trong công tác giáo dục. Ban Giám hiệu nhà trường luôn quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất và tài liệu chuyên môn phục vụ cho hoạt động giáo dục đặc biệt là công tác chủ nhiệm lớp.
- Có sự phối hợp, hỗ trợ của các đoàn thể, các giáo viên chủ nhiệm khác, các giáo viên phụ trách bộ môn, cha mẹ học sinh và sự đoàn kết của tất cả các em học sinh.
- Đa số giáo viên chủ nhiệm là những người có chuyên môn vững, có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề và được phụ huynh,  đồng nghiệp và  học sinh tin yêu.
- Bản thân luôn có tinh thần trách nhiệm trong công việc, đặc biệt là đối với công tác chủ nhiệm.
Năm học 2016- 2017,  tôi được BGH nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 8a3, lớp có 28 học sinh trong đó 15 nữ.
- Đa số học sinh chăm ngoan, có ý thức tự học tự rèn, tinh thần cầu tiến, tích cực, chủ động tham gia các hoạt động thi đua.
- Tập thể học sinh lớp 8A3 là một tập thể có tinh thần đoàn kết, ý thức học tập khá tốt.
- Lớp có một số học sinh có năng khiếu đặc biệt như: Em Nguyễn Phước Quý Châu -  là học  sinh giỏi toàn diện,  thành viên trong đội văn nghệ Liên đội; em Nguyễn Như Ngọc – là vận động viên cờ vua của trường.
2.2. Khó khăn
- Do điều kiện kinh tế khó khăn của địa phương, gia đình nên các em ngoài việc học tập còn phải lao động, giúp đỡ thêm cho gia đình như may gia công quần áo, khăn bịt mặt, làm việc nhà, làm một số việc nhà nông...
- Mặt bằng dân trí còn thấp nên một số gia đình hầu như chưa thực sự quan tâm đến việc sinh hoạt và học tập của con em.
- Đa số học sinh  luôn có ý thức vâng lời cha mẹ, thầy cô giáo, người lớn tuổi, song lại cũng rất dễ nhiễm các tác động tiêu cực từ gia đình, bạn bè, xã hội, đặc biệt trong thực tế xã hội hiện nay, cơ hội cái xấu tác động vào quá trình rèn luyện nhân cách, vào tư tưởng, tình cảm của các em rất nhiều. Bởi vậy nếu không có nề nếp tốt từ trong gia đình, ở trường lớp học sinh sẽ rất dễ có những thay đổi bất thường, tiêm nhiễm những tệ nạn xã hội rất nhanh, nhiều khi đi ngược lại mong muốn của người lớn.
- Học sinh ở bậc trung học cơ sở, lứa tuổi vị thành niên về tâm sinh lý là lứa tuổi có biến động rất mạnh. Vì thế, mức độ ổn định trong quá trình hình thành nhân cách chưa cao, cần có sự quan tâm kịp thời của gia đình và thầy cô. Một vài học sinh còn tình trạng ỷ lại, ý thức học tập và rèn luyện còn hạn chế.
- Hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp của một số giáo viên chưa cao, còn xảy ra tình trạng né tránh, ngại làm công tác chủ nhiệm.
- Đối với lớp 8ª3, lớp có 5 em thuộc gia đình hộ nghèo và cận nghèo, có 2 em có hoàn cảnh gia đình khó khăn: Bố mẹ li thân phải ở với ông bà. Chất lượng học tập của lớp còn ở mức trung bình và không đồng đều; có 7 em được lên lớp sau khi thi lại sau hè. Đặc biệt có một số em thuộc diện học sinh cá biệt, ý thức học tập kém: trên lớp không ghi bài, thường xuyên thiếu sách vở, không làm bài tập ở nhà. Cụ thể như các em: Mai Duy Hải, Trần Thị Huệ, Nguyễn Đăng Huân, Lê Văn Vinh và một số em khác. Việc tham gia các hoạt động phong trào của lớp cũng chưa đạt kết quả cao, nhiều em còn có tính tị nạnh, ỷ lại, chưa tự giác.
* Nguyên nhân
          - Về mặt xã hội:             
Với xu thế hội nhập kinh tế thế giới hiện nay đã có ảnh hưởng không ít đến thế hệ trẻ,  bên cạnh những tác động tích cực cũng có những ảnh hưởng tiêu cực như: Các tệ nạn xã hội như trò chơi điện tử, văn hóa phẩm đồi trụy trên Internet, hay những trò chơi mang nặng tính chất kinh doanh như game online...  làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của các em.
-  Về gia đình:
+ Một số gia đình quá chiều con, muốn gì được nấy hoặc do hoàn cảnh gia đình không thuận hòa. Ví dụ: Bố thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm trong việc dạy con, điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến các em.
+ Một số gia đình không quản được thời gian của con em mình, bố mẹ đi làm cả ngày, buổi trưa không về, đưa tiền cho các em ăn sáng hoặc lo buổi trưa thì các em lại không ăn hoặc ăn mì tôm và để giành tiền cho việc ăn quà vặt hoặc chơi điện tử…
- Về học sinh:
+ Các em học sinh bậc THCS đang ở lứa tuổi mới lớn, tâm lí thay đổi thất thường, muốn chứng tỏ với mọi người rằng mình đã lớn. Các em đã có những rung cảm mới lạ, các em khao khát được tìm hiểu, được tiếp cận những thông tin mới, được tìm hiểu trên mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội.
+ Một số em bị rủ rê, lôi kéo vào các tệ nạn như: Uống bia, rượu, sử dụng các chất kích thích, đánh nhau gây mất đoàn kết … làm ảnh hưởng không tốt đối với các em.
- Về giáo viên:
 Một số giáo viên chưa thật sự  linh hoạt, mềm dẻo trong  xử lý một vài tình huống sư phạm, chưa thân thiện khiến các em cảm thấy sợ, tự ái và cảm thấy bị tổn thương.
2.3. Vấn đề đặt ra
 Từ những thực tế trên đây, với kinh nghiệm đã từng là một học sinh trước đây và với vai trò là một giáo viên chủ nhiệm, tôi luôn trăn trở: Vậy người giáo viên phải có những biện pháp gì để có thể giúp học sinh học tập và rèn luyện tốt hơn?  Giúp các em có thể vượt qua được những khó khăn để vươn lên trong học tập.

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập4
  • Hôm nay244
  • Tháng hiện tại15,066
  • Tổng lượt truy cập37,811
THÀNH VIÊN
VĂN BẢN

4622/BGDĐT-CNTT

Công văn số 4622/BGDĐT-CNTT về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2016 – 2017

Thời gian đăng: 10/08/2017

lượt xem: 33 | lượt tải:8

80/2014/QĐ-TTg

Quyết định số 80/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Quy định thí điểm về thuê dịch vụ công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước

Thời gian đăng: 10/08/2017

lượt xem: 24 | lượt tải:7

20/2014/TT-BTTTT

Thông tư 20/2014/TT-BTTTT của Bộ TT&TT ban hành ngày 05/12/2014 quy định về các sản phẩm phần mềm nguồn mở (PMNM) được ưu tiên mua sắm, sử dụng trong cơ quan, tổ chức nhà nước.

Thời gian đăng: 10/08/2017

lượt xem: 18 | lượt tải:6

72/2013/NĐ-CP

Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng

Thời gian đăng: 10/08/2017

lượt xem: 21 | lượt tải:6

310/BTTTT-ƯDCNTT

Công văn số 310/BTTTT-ƯDCNTT ngày 10/02/2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc hướng dẫn áp dụng bộ tiêu chí đánh giá cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước

Thời gian đăng: 10/08/2017

lượt xem: 25 | lượt tải:6

24/2011/TT-BTTTT

Thông tư số 24/2011/TT-BTTTT ngày 20/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về việc tạo lập, sử dụng và lưu trữ dữ liệu đặc tả trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước

Thời gian đăng: 10/08/2017

lượt xem: 22 | lượt tải:6

2132/BTTTT-VNCERT

Văn bản số 2132/BTTTT-VNCERT, ngày 18/7/2011, của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc hướng dẫn bảo đảm an toàn thông tin cho các cổng/trang thông tin điện tử

Thời gian đăng: 10/08/2017

lượt xem: 21 | lượt tải:6
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây