ĐĂNG KÝ NHẬN TIN

Nhập Email để nhận những bài viết mới nhất
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập13
  • Hôm nay716
  • Tháng hiện tại16,582
  • Tổng lượt truy cập191,579
đề thi học kỳ 2 tiểu học
5512
GIÁO ÁN THEO CHỦ ĐỀ

Đề cương ôn tập học kì 2 môn Ngữ văn lớp 8 năm 2020 - 2021

Thứ năm - 08/04/2021 11:36 23 0

Đề cương ôn tập học kì 2 môn Ngữ văn lớp 8 năm 2020 - 2021

 

I/ Phần văn bản ôn thi học kì 2 Văn 8

1. Thơ Việt Nam (1930-1945) – cấp độ nhận biết

TT

Tên văn bản

Tác giả

Xuất xứ

Thể thơ

Nội dung chính, nghệ thuật

1

Nhớ rừng

(Thơ mới)

Thế Lữ

(1907-1989)

Viết 1934, in trong tập “Mấy vần thơ”

Thơ tám chữ

Mượn lời con hổ bị nhốt ở vườn bách thú để diễn tả sâu sắc nỗi chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và niềm khao khát tự do mãnh liệt bằng những vần thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn. Bài thơ đã khơi gợi niềm yêu nước thầm kín của người dân mất nước thuở ấy.

2

Quê hương

(Thơ mới)

Tế Hanh

(1921-2009)

Trích trong tập “Nghẹn ngào”-1939

Thơ tám chữ

Với những vần thơ bình dị mà gợi cảm, bài thơ Quê hương của Tế Hanh đã vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh khỏe khoắn, đầy sức sống của người dân chài và sinh hoạt lao động làng chài. Bài thơ cho thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiết của nhà thơ.

3

Khi con tu hú

(Thơ cách mạng)

Tố Hữu

(1920-2002)

Sáng tác tháng 7-1939 tại nhà lao Thừa Phủ

Thơ lục bát

Là bài thơ lục bát giản dị,thiết tha, thể hiện sâu sắc lòng yêu cuộc sống và niềm khát khao tự do cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng trong cảnh tù đày.

4

Tức cảnh Pác Bó

(Thơ cách mạng)

Hồ Chí Minh

Sáng tác tháng 2-1941 khi Bác sống và làm việc ở Pác Bó

Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

Là bài thơ tứ tuyệt bình dị pha giọng vui đùa cho thấy tinh thần lạc quan, phong thái ung dung của Bác Hồ trong cuộc sống cách mạng đầy khó khăn gian khổ ở Pác Bó.Với Người, làm cách mạng và sống hòa hợp với thiên nhiên là một niềm vui lớn.

5

Ngắm Trăng
(Vọng nguyệt)

Hồ Chí Minh

Trích tập “Nhật kí trong tù” viết khi Bác bị giam tại nhà tù Tưởng Giới Thạch (1942-1943)

Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

Là bài thơ tứ tuyệt giản dị mà hàm súc, cho thấy tình yêu thiên nhiên đến say mê và phong thái ung dung của Bác Hồ ngay cả trong cảnh ngục tù cực khổ tối tăm.

 

 

 

 

6

Đi đường

(Tẩu lộ)

Hồ Chí Minh

Trích tập “Nhật kí trong tù” (1942-1943)

Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

Là bài thơ tứ tuyệt giản dị mà hàm súc, mang ý nghĩa tư tưởng sâu sắc; từ việc đi đường núi đã gợi ra chân lí đường đời: vượt qua gian lao chồng chất sẽ tới thắng

lợi vẻ vang.

 

2. Các văn bản nghị luận trung đại – cấp độ thông hiểu

2.1. Chiếu dời đô (Lý Công Uẩn – 1010)

1. Vì sao nói văn bản Chiếu dời đô phản ánh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc?

Trả lời: Việc dời đô phản ánh ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt vì: Dời đô từ Hoa Lư ra vùng đồng băng chứng tỏ triều đình đủ sức chấm dứt nạn PK cát cứ, thế và lực sánh ngang phương Bắc. Định đô ở Thăng Long là thực hiện nguyện vọng của nhân dân thu giang sơn về một mối, xây dựng đất nước độc lập tự cường.

2. Nhận xét về con người của Lý Công Uẩn qua bài Chiếu dời đô?

Trả lời: Lý Công Uẩn là một vị vua anh minh, thông minh, nhân ái, có chí lớn, nhìn xa trông rộng và rất được lòng dân.

2.2. Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn)

1. Trần Quốc Tuấn viết bài Hịch tướng sĩ trong hoàn cảnh nào và để làm gì?

Trả lời: Hịch tướng sĩ do Trần Quốc Tuấn viết vào khoảng trước cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ hai (1285) để khích lệ tướng sĩ học tập cuốn Binh thư yếu lược do chính Trần Quốc Tuấn soạn để có thể chiến thắng quân Mông – Nguyên.

2. Nhận xét về con người của Trần Quốc Tuấn qua bài Hịch tướng sĩ?

Trả lời: Trần Quốc Tuấn là một danh tướng văn võ song toàn và kiệt xuất của dân tộc, là người lãnh đạo anh minh, thông minh, có chí lớn và biết nhìn xa trông rộng.

2.3. Nước Đại Việt ta – trích Bình ngô đại cáo (Nguyễn Trãi – tháng 1-1428)

1. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã thể hiện qua hai câu thơ trong bài Nước Đại Việt ta. Hai câu thơ đó là hai câu nào? Có thể hiểu cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi như thế nào? Hãy nhận xét về tư tưởng này và so sánh với tư tưởng của Nho Giáo.

Trả lời: Hai câu thơ thể hiện tư tưởng của Nguyễn Trãi:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.”

Cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là "yên dân”, “trừ bạo”. Yên dân là làm cho dân được an hưởng thái bình, hạnh phúc. Muốn yên dân thì phải trừ diệt mọi thế lực bạo tàn phá hoại cuộc sống yên ổn của nhân dân. Như vậy, với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa gắn liền với yêu nước, yêu dân, chống xâm lược. Đây là một tư tưởng đúng đắn và tiến bộ hơn so với tư tưởng Nho giáo xưa. Nhân nghĩa theo quan niệm trước đó (nho giáo) là quan hệ giữa người với người giờ đây nhân nghĩa gắn liền với yêu nước chống xâm lược, thể hiện trong mối quan hệ giữa dân tộc với dân tộc. Đó là nét mới, sự phát triển của tư tưởng nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi.

3. Để khẳng định chủ quyền độc lập dân tộc, tác giả đã dựa vào các yếu tố nào?

Trả lời: Các yếu tố: tên nước (Đại Việt), có nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ riêng, có phong tục riêng, có chủ quyền, có truyền thống lịch sử riêng, có nhân tài (hào kiệt) riêng.

4. Vì sao Bình Ngô đại cáo được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc? Hãy so sánh với Nam quốc sơn hà (Sông núi nước non) của Lý Thường Kiệt.

Trả lời: Bình Ngô đại cáo là một bản tuyên ngôn độc lập vì nó giống với các bản tuyên ngôn độc lập khác:

– Khẳng định chủ quyền độc lập dân tộc;

– Thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, đồng bào;

– Tố cáo tội ác của giặc, và cho chúng biết kết quả nhất định sẽ thất bại khi dám xâm lược Việt Nam;

– Ca ngợi tôn vinh con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam.

Điểm khác nhau giữa Bình Ngô đại cáo với Nam quốc sơn hà

Nội dung

Bình Ngô Đại Cáo

Nam quốc sơn hà

Khẳng định chủ quyền

Trên nhiều phương diện toàn diện rõ ràng, không thể chối cãi: tên nước, nền văn hiến, lãnh thổ, phong tục, chủ quyền, truyền thống lịch sử, nhân tài.

Trên hai phương diện: bờ cõi và chủ quyền (vua) – được khẳng định ở sách trời là lực lưỡng siêu nhiên không rõ ràng.

Lòng yêu nước, yêu dân

Lấy dân làm gốc, yêu nước là yêu dân.

Trung quân ái quốc. Yêu nước là yêu dân.

Vạch trần tội ác của giặc

Vạch trần tội ác của giặc, khẳng định số phận của chúng khi bằng chứng cớ lịch sử thuyết phục, hùng hồn.

Vạch trần tội ác của quân xâm lược, là lời dự báo cho số phận của chúng.

 

2.4. Bàn luận về phép học – Luận học pháp (La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp)

1. Nguyễn Thiếp đã phê phán những lối học lệch lạc, sai trái nào? Tác hại của lối học ấy là gì?

Trả lời: Tác giả phê phán những lối học:

+ Học lối học hình thức hòng cầu danh lợi → lối học vì mục đích tầm thường, thực dụng tiến thân- làm quan- cầu danh lợi.

+ Không biết tới tam cương ngũ thường → lối học hình thức, làm mất đi ý nghĩa chân chính của việc học.

→ Những người theo sự học giả dối nếu làm quan sẽ trở thành "nịnh thần", trở thành kẻ tham quan, làm cho nước mất nhà tan.

2. Để khuyến khích việc học, Nguyễn Thiếp khuyên vua Quang Trung thực hiện những chính sách gì?

Trả lời: Để khuyến khích việc học, Nguyễn Thiếp bàn tới hình thức học và cách học:

+ Mở rộng thêm trường, mở rộng thành phần người học, tạo điều kiện thuận lợi cho người học.

+ Việc học phải được tiến hành tuần tự: bồi lấy gốc → tứ thư ngũ kinh → chư sử.

+ Học rộng rồi tóm lược.

+ Học đi đôi với thực hành.

3. Bài tấu có đoạn bàn về “phép học”, đó là những “phép học” nào? Tác dụng và ý nghĩa của những phép học ấy? Từ thực tế việc học của bản thân, em thấy phương pháp học tập nào là tốt nhất?

Trả lời: Việc học phải bắt đầu từ những cái cơ bản, có tính nền tảng. Phương pháp học học phải:

+ Tuần tự tiến lên, từ thấp đến cao

+ Học rộng, nghĩ sâu, biết tóm lược những điều cơ bản, cốt yếu nhất

+ Học phải biết kết hợp với hành. Học không phải chỉ đế biết mà còn để làm.

→ Khi thực hiện theo phép học này người học mới có thể "lập công trạng", lấy những điều học được mang lại cho đất nước sự "vững yên", "thịnh trị" cho đất nước.

→ Từ việc học của bản thân, em thấy phương pháp học tốt nhất là học từ những thứ cơ bản, rồi tới những điều phức tạp. Học phải kết hợp với thực hành để việc học trở nên nhuần nhuyễn, có ích.

3. Chương trình địa phương (phần văn)

* Văn bản: BÁNH CANH BỘT HÁ CẢO (Minh Cúc)

Bánh canh bột há cảo là một trong những đặc sản ẩm thực của Bạc Liêu. Người dân Bạc Liêu bằng sự tinh tế, khéo léo của mình đã từ những sản vật quen thuộc mà bình dị của quê hương sáng tạo nên những món ăn ngon như món bánh canh bột há cảo để thên hương vị cho đời.

Bài viết nói về một món ăn tưởng như rất đỗi giản dị, bình thường trong cuộc sống hàng ngày nhưng lại chứa đựng những phát hiện thú vị, sâu xa về văn hóa và lối sống của người dân Bạc Liêu, đặc biệt là về tình cảm gia đình, nguồn cội.

II. Phần tiếng Việt ôn thi học kì 2 lớp 8 môn Văn

1. Các kiểu câu chia theo mục đích nói

TT

Kiểu câu

Đặc điểm hình thức & chức năng

Ví dụ

1

Câu nghi vấn

· Câu nghi vấn là câu:

– Có những từ nghi vấn (ai, gì, nào, tại sao, đâu, bao giờ, bao nhiêu, à, ư, hả, chứ, (có) … không, (đã)…chưa,…) hoặc có từ hay (nối các vế có quan hệ lựa chọn).

– Có chức năng chính là dùng để hỏi.

· Khi viết, câu nghi vấn kết thúc bằng dấu chấm.

· Trong nhiều trường hợp, câu nghi vấn không dùng để hỏi mà dùng để cầu khiến, khẳng định, phủ định, đe dọa, bộc lộ tình cảm, cảm xúc,.. và không yêu cầu người đối thoại trả lời.

· Nếu không dùng để hỏi thì trong một số trường hợp, câu nghi vấn có thể kết thúc bằng dâu chấm than hoặc dấu chấm lửng.

– Con ăn cơm chưa?

Þ Câu nghi vấn dùng để hỏi.

 

 

 

 

– Sao mày dám chưa ăn cơm hả?

Þ Câu nghi vấn dùng để đe dọa.

2

Câu cầu khiến

· Câu cầu khiến là câu có những từ cầu khiến như: hãy, đừng, chớ,.. đi, thôi, nào,.. hay ngữ điệu cầu khiến ; dùng để ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên bảo,…

· Khi viết, câu cầu khiến thường thúc bằng dấu chấm than, nhưng khi ý cầu khiến không được nhấn mạnh thì có thể kết thúc bằng dấu chấm.

– Ra ngoài!

Þ Câu cầu khiến dùng để ra lệnh.

– Con nên học tập chăm chỉ hơn!

Þ Câu cầu khiến dùng để khuyên bảo.

3

Câu cảm thán

· Là câu có những từ cảm thán như: ôi, than ôi, hỡi ơi, chao ôi (ôi), trời ơi; thay, biết bao, xiết bao, biết chừng nào,... dùng để bộc lộ trực tiếp cảm xúc của người nói (người viết) ; xuất hiện chủ yếu trong ngôn ngữ nói hàng ngày hay ngôn ngữ văn chương.

· Khi viết, câu cảm thán thường kết thúc bằng dấu chấm than.

– Hỡi ơi lão Hạc!

– Ôi chao, buổi bình minh mặt trời mọc mới đẹp làm sao!

Þ Câu cảm thán dùng để bộc lộ cảm xúc.

4

Câu trần thuật

· Câu trần thuật không có đặc điểm hình thức của các kiểu câu nghi vấn, cầu khiến, cảm thán ; thường dùng để kể, thông báo, nhận định, miêu tả,…

Ngoài những chức năng trên đây câu trần thuật còn dùng để yêu cầu, đề nghị hay bộc lộ tình cảm, cảm xúc...( vốn là chức năng chính của những kiểu câu khác).

· Khi viết, câu trần thuật thường kết thúc bằng dấu chấm, nhưng đôi khi nó có thể kết thúc bằng dấu chấm than hoặc dấu chấm lửng.

· Đây là kiểu câu cơ bản và được dùng phổ biến trong giao tiếp.

– Ma túy gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng.

ÞCâu trần thuật dùng để kể.

– Xin lỗi, ở đây không được hút thuốc lá.

Þ Câu trần thuật dùng để yêu cầu, đề nghị.

 

5

Câu phủ định

· Câu phủ định là câu có những từ ngữ phủ định như: không, chưa, chẳng, chưa, không phải (là), chẳng phải (là), đâu có phải (là), đâu (có),…

· Câu phủ định dùng để :

– Thông báo, xác nhận không có sự vật, sự việc, tính chất, quan hệ nào đó (Câu phủ định miêu tả).

– Phản bác một ý kiến, một nhận định.(Câu phủ định bác bỏ).

– Nam không đi Huế.

Þ Câu phủ định miêu tả dùng để xác nhận không có sự việc Nam đi Huế diễn ra.

– Không phải nó chần chẫn như cái đòn càn …- đâu có!

Þ Câu phủ định dùng bác bỏ ý kiến trước đó.

 
download

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây